Nguồn tin:BTQN
  • Cập nhật:07/08/2018 02:18:15 CH

Du khách tham quan Bảo tàng tỉnh Quảng Ninh rất tò mò về một hiện vật khá lớn nằm trong tủ trưng bày, là đoạn thân gỗ đẽo hình lòng máng nứt nẻ. Đó chính là một chiếc mộ thuyền - một hình thức an táng người chết của người Việt cổ thời kỳ Hùng Vương cách ngày nay khoảng 2.500 năm.


Theo tài liệu lưu trữ tại Bảo tàng tỉnh Quảng Ninh, cách đây 27 năm (1991) trong quá trình thi công đập Vành Kiệu thuộc xã (nay là phường) Phương Nam (Uông Bí), những công nhân thuỷ lợi đã phát hiện ra 7 quan tài hình thuyền ở dưới độ sâu 2,5m-3,5m. Các mộ thuyền này phân bố rải rác trên cánh đồng Cầu Đen, gần cửa cảng Bạch Thái Bưởi. Cuối năm 1992, khi thi công đập Vành Kiệu sang xã Phương Đông, các công nhân tiếp tục phát hiện một mộ thuyền, cách khu mộ thuyền Phương Nam chừng 2km dưới độ sâu khoảng 2m. Sở dĩ các nhà khoa học gọi là mộ thuyền bởi những quan tài này là hai nửa của một thân cây khoét rỗng ghép lại, hai đầu của tấm địa có tay khiêng, bốn góc quan tài có lỗ chốt, bên ngoài được đẽo gia công hoặc để nguyên. Khi chôn xuống bùn, người xưa dùng cọc đóng cố định quan tài thuyền xuống 4 góc. Tất cả các mộ thuyền được phát hiện ở Phương Nam, Phương Đông xưa đều là những vùng sình lầy, ngập nước.

Mộ thuyền được trưng bày tại Bảo tàng tỉnh Quảng Ninh là 1 trong số các mộ thuyền được đưa về lưu giữ tại đây, chính là chiếc mộ thuyền lớn nhất còn tương đối nguyên vẹn. Chiều dài tấm thiên và tấm địa đo được là dài 2,85m, rộng 0,48m, sâu lòng 0,41m. Trên tấm địa mỗi đầu có hai tay khiêng dài 0,20m, đủ để cho người bám tay vào để khiêng quan tài. Hiện trong mộ thuyền này đang lưu giữ một bộ hài cốt chôn theo mộ thuyền gồm xương sọ (thiếu hàm dưới), 2 xương đùi, 1 mảnh xương chậu, 2 đốt sống và một số mẩu xương sườn, xương ống chân. Ngoài ra còn có các đồ tuỳ táng chôn theo gồm 1 miếng giáp, 2 vòng tay, 1 sanh, 4 rìu, 1 giáo nhỏ bằng đồng, 1 lõi vòng bằng đá ngọc granit màu trắng ngà và một cuộn dây gai.

Các mộ thuyền còn lại hiện đang được lưu giữ và bảo quản trong kho có kích cỡ nhỏ hơn, không còn cốt và đồ tuỳ táng. Do được chôn sâu dưới đất sình lầy, có nhiều khí mê-tan, các vi khuẩn không xâm hại được nên những mộ thuyền này đã tồn tại qua hơn 2.500 năm. Khi đưa lên khỏi mặt đất, thoát khỏi môi trường yếm khí, các quan tài này đã nhanh chóng nứt vỡ (giống như các cọc Bạch Đằng lưu giữ ở Bảo tàng Quảng Yên và Bảo tàng tỉnh Quảng Ninh hiện nay).

PGS,Tiến sĩ Bùi Văn Liêm, Phó Viện trưởng Viện Khảo cổ học Việt Nam, chuyên nghiên cứu về mộ thuyền cho rằng mộ thuyền là hình thức chôn cất độc đáo của nhóm người Việt cổ thời Văn hoá Đông Sơn - giai đoạn rực rỡ của thời đại Hùng Vương chuyên khai phá vùng đất trũng của đồng bằng Bắc Bộ và cửa biển. Người Đông Sơn quan niệm rằng cái chết là sự chấm dứt cuộc sống ở thế giới bên này và bắt đầu cuộc sống ở thế giới bên kia, nghĩa là người chết vẫn phải lao động, sinh hoạt và chiến đấu. Do vậy người Đông Sơn đều thực hiện táng tục giống nhau đó là chôn theo đồ dùng sinh hoạt, công cụ sản xuất và vũ khí.

Từ những di vật này giúp chúng ta hiểu thêm được nhiều khía cạnh về đời sống xã hội, tín ngưỡng, địa vị, các ngành nghề thủ công... của cư dân Đông Sơn vùng đồng bằng Bắc Bộ nói chung và vùng Đông Bắc - cụ thể là Hải Phòng, Quảng Ninh nói riêng...

 

Nguồn tin:BTQN